Nhiều doanh nghiệp đang “nín thở” chờ đợi quyết định của Chính Phủ có tiếp tục hay vẫn tạm ngừng xuất khẩu gạo. Đây là bài toán cân nhắc bên nặng bên nhẹ, xuất khẩu gạo hay bảo toàn lực lượng trong giai đoạn bất ổn chưa từng trải qua này. 

Cơ hội xuất khẩu gạo sang thị trường Philippines, Trung Quốc

Giáo sư Võ Tòng Xuân, chuyên gia nông nghiệp đánh giá, hiện nay Việt Nam có khá nhiều cơ hội xuất khẩu gạo, điển hình là sang thị trường Philippines.

Xuất khẩu gạo sang Philippines năm nay tăng thêm 300.000 tấn bởi vì họ chỉ có đủ gạo ăn trong 4 tháng. Philippines đã ký hợp đồng nhập khẩu 200.000 tấn gạo với Việt Nam nhưng tất cả đều đang bị ách lại.

Ông Xuân cũng cho biết thêm: “Tôi đã trao đổi với một số doanh nghiệp ký hợp đồng xuất khẩu gạo với Philippines. Các doanh nghiệp phản ánh, gạo đã đưa ra tới cảng nhưng ách lại chờ lệnh của Thủ tướng mới có thể xuất khẩu. Do nhu cầu còn thiếu hụt, có thể Philippines sẽ mua thêm từ Việt Nam cho đủ 300.000 tấn gạo trong năm nay”.

Lượng gạo xuất khẩu đã được tính toán kỹ lưỡng cho an ninh lương thực trong nước (ảnh: Trần Mạnh/Tuổi Trẻ).

Dù gạo xuất khẩu bị dừng lại đột ngột, nhưng đến nay phía Philippines chưa có động thái hủy đơn hàng nhập khẩu gạo từ Việt Nam đó là bởi vì thị trường xuất khẩu gạo lớn là Ấn Độ hiện nay cũng đang đóng cửa do dịch bệnh. Gạo Thái Lan đang ở mức giá quá cao nên Philippines vẫn đang chờ động thái của Việt Nam.

Ngoài Philippines, thị trường Trung Quốc cũng là cơ hội thúc đẩy xuất khẩu gạo của Việt Nam. Tuy nhiên, nhu cầu của Trung Quốc không mãnh liệt như Philippines

“Nếu nhanh chóng quyết định cho tiếp tục xuất khẩu gạo thì Việt Nam có thể tận dụng được cơ hội. Nếu dùng dằng quá lâu thì chúng ta sẽ mất cơ hội bởi hiện nay Philippines đang khá nóng lòng. Họ chỉ còn vài tháng là hết gạo”, chuyên gia Võ Tòng Xuân cho biết.

Việt Nam có lo thiếu gạo?

Hiệp hội Lương thực Việt Nam nhận định về thị trường trong ngắn hạn, giá gạo tăng chủ yếu do tâm lí lo sợ dịch bệnh COVID-19 đang hoành hành trên toàn cầu, điều đó thúc đẩy người tiêu dùng các nước tích trữ lương thực, nhu yếu phẩm. Bên cạnh dịch bệnh thì hạn hán, xâm nhập mặn ở ĐBSCL và nguồn nước tưới tiêu cũng là những yếu tố tác động đến thị trường lúa gạo.

Những lo ngại về vấn đề an ninh lương thực trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 và hạn hán cũng như xâm nhập mặn ở ĐBSCL, cần cân nhắc việc tiếp tục cho xuất khẩu gạo, GS. Xuân phân tích: “Chúng ta không lo thiếu gạo vì lượng lúa gạo vừa thu hoạch trong vụ đông xuân 2019-2020, sau khi đã dành cho an ninh lương thực rồi vẫn dư thừa ít nhất 3 triệu tấn. Nếu Việt Nam chậm ký hợp đồng giành khách hàng thì Thái Lan sẽ ký trước chúng ta. “Tôi e rằng không còn cơ hội cho gạo Việt Nam khi chúng ta đến sau”.

Khoảng 800 nghìn tấn gạo được cân đối cho xuất khẩu tới tháng 5 (ảnh: Báo Chính Phủ).

Ở một góc nhìn khác, Tổng Giám đốc Công ty CP Nông nghiệp công nghệ cao Trung An (TP. Cần Thơ), ông Phạm Thái Bình cũng cho rằng, chúng ta không lo thiếu gạo. Dù năm nay hạn hán, xâm nhập mặn gay gắt nhưng năng suất lúa vẫn rất cao so với những năm không có hạn, mặn nên không ảnh hưởng đến tổng sản lượng lúa gạo. “Vì vậy, Việt Nam nên cho xuất khẩu gạo”, ông Bình nói.

Việt Nam dư lực xuất khẩu 6,5 triệu tấn

Ông Phạm Thái Bình, đứng dưới góc độ doanh nghiệp đang tham gia xuất khẩu gạo, không giấu được lo lắng.

“Các doanh nghiệp xuất khẩu gạo đang hồi hộp chờ quyết định cho phép xuất khẩu gạo trở lại bởi càng đợi lâu, doanh nghiệp càng ‘chết’. Từ ngày 24/3 đến nay, các container gạo chưa xuất khẩu được lưu tại cảng hiện vẫn chưa thể xử lý. Mỗi ngày doanh nghiệp vẫn phải trả chi phí lưu container, phải trả lãi ngân hàng, bồi thường thiệt hại cho đối tác…”, ông Bình cho biết.

Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam ,ông Đỗ Hà Nam nhận định, với sản lượng gạo hiện có như hiện nay, Việt Nam vẫn nên cho xuất khẩu gạo nhưng cần có biện pháp kiểm soát. Điều này giúp đón nhu cầu đang cao của thị trường, đồng thời khuyến khích người dân xuống giống vụ lúa Hè Thu, Thu Đông.

Theo tính toán của Bộ NN&PTNT, sản xuất năm 2020 ước đạt 43,5 triệu tấn thóc. Về nhu cầu tiêu  dùng của người dân là 14,26 triệu tấn; phục vụ chế biến là 7,5 triệu tấn; phục vụ chăn nuôi 3,4 triệu tấn; dùng làm giống và giống dự phòng 1 triệu tấn; dự trữ trong nước 3,8 triệu tấn . Như vậy, còn dư khoảng 13,5 triệu tấn thóc để xuất khẩu, tương đương 6,5 – 6,7 triệu tấn gạo.

Nếu ngừng xuất khẩu, giá lúa chắc chắn sẽ giảm (ảnh: Công Hân/Thanh Niên).

Giáo sư Xuân bày tỏ quan điểm, mặc dù cần thận trọng để đảm bảo an ninh lương thực nhưng năm nay Việt Nam được mùa nên lượng xuất khẩu khoảng 6,5 triệu tấn là phù hợp.

Theo báo cáo của Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ NN&PTNT), trong tháng 03/2020  giá gạo xuất khẩu của Thái Lan kéo dài đà tăng lên mức cao nhất trong vòng 6 năm; giá gạo xuất khẩu của Việt Nam cũng đã tăng lên mức cao nhất trong gần 16 tháng qua.

Cụ thể, gạo tiêu chuẩn 5% Thái Lan được chào bán ở mức 480 – 505 USD/tấn, tăng so với 460 – 467 USD/tấn đầu tháng. Giá gạo 5% tấm Việt Nam tăng lên 410 USD/tấn, tăng so với 400 USD/tấn đầu tháng. Gạo đồ 5% tấm Ấn Độ ở mức 363 – 367 USD/tấn, giảm so với 367 – 371 USD/tấn đầu tháng do tỷ giá đồng Rupee đi xuống và nguồn cung dư dả do giảm giao thương với Iran.

Giáo sư Xuân nhấn mạnh: “Gạo Thái Lan đang tăng giá, nếu Thủ tướng đồng ý với đề xuất của Bộ Công Thương cho tiếp tục xuất khẩu gạo, Việt Nam cũng nên nâng giá bán lên cho phù hợp. Mức nâng giá đảm bảo thấp hơn giá của Thái Lan khoảng 2-3% thì sẽ gia tăng tính cạnh tranh cho gạo Việt, chiếm được thị trường”.

Câu trả lời cho các doanh nghiệp về việc có được phép xuất khẩu gạo hay không hiện đang bỏ ngỏ chờ quyết định của Chính phủ Việt Nam.

Thể Loại: Thời sự Xã hội