Sau một cuộc tranh luận trong khoảng thời gian rất lâu, Bản tuyên ngôn được ghi chép lại và đặt lên bàn của Chủ tịch, mỗi đại biểu Quốc hội bước lên phía trước rồi ký tên của mình, không khí trở nên nặng nề đến nghẹt thở. Vào thời điểm đó, những chữ ký này đồng nghĩa với việc những ai trong danh sách đều có chung nguy cơ bị Vua của nước Anh treo cổ…

Loạt bài về George Washington

Bản Tuyên ngôn Độc lập, là một văn kiện lập quốc quan trọng nhất của Hoa Kỳ, được trình bày trước Quốc hội Lục địa Hoa Kỳ bởi nhóm gồm năm người. Trên thực tế, Thomas Jefferson là người viết ra bản thảo vĩ đại này, ngoài ra còn sự góp mặt của các thành viên là: John Adams và cụ già đức cao vọng trọng Benjamin Franklin – ông cũng chỉ sửa đổi lại một vài câu chữ cho bản thảo này.

Một áng văn bất hủ cho toàn nhân loại

Mở đầu bản Tuyên ngôn có đề cập đến Thần, Sáng Thế Chủ, là Đấng tạo hóa thiên địa và cai trị vạn sự vạn vật, mọi cuộc đấu tranh của con người đều được tiến hành theo đúng những quyền mà Thần đã ban cho nhân loại. “Mọi người sinh ra đều bình đẳng, họ được Tạo hoá ban cho một số quyền tất yếu bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Để đảm bảo cho những quyền này, chính phủ đã được lập ra từ trong nhân dân và có được quyền lực chính đáng là do có sự ưng thuận của nhân dân”.

Vậy vì sao họ lại tách ly khỏi chủ quốc Anh để thành lập một quốc gia độc lập? Phần  đầu của Bản tuyên ngôn đã giải thích như sau:

“Kinh nghiệm từ xưa tới nay đều cho thấy rằng: con người thà chịu đựng bất kỳ khổ đau nào miễn là khi cái xấu còn ở mức chịu đựng được, còn hơn là xóa bỏ chính quyền mà họ đã quen thuộc vì quyền lợi của mình. Nhưng khi hàng loạt hành vi lạm dụng và tước đoạt, kiêu ngạo đeo đuổi một mục tiêu, đã làm lộ rõ ý đồ khuất phục họ dưới ách chuyên chế độc tài tuyệt đối thì họ có quyền, có bổn phận lật đổ một chính quyền như thế và bổ nhiệm những người khác ra để giữ yên ổn cho họ trong tương lai.

“Lịch sử của vua nước Anh hiện nay là lịch sử của những nỗi đau thương và sự tước đoạt triền miên, tất cả đều nhằm mục đích trực tiếp là thiết lập ách chuyên chế bạo ngược ở những bang này”.

Những dòng chữ trên chưa bao giờ phai nhạt theo dòng chảy của thời gian, mà ngược lại, lại càng thêm nổi bật. Tại khắp nơi trên thế giới, đoạn văn này chính là chuẩn mực tinh thần cho con người thoát khỏi chế độ chuyên chế để đấu tranh cho tự do nhân quyền.

Tại Hồng Kông vào năm 2019, để đấu tranh chống lại sự chuyên chế của ĐCSTQ và bảo vệ nền độc lập hiến pháp cũng như nhân quyền và tự do của Hồng Kông, một thế hệ thanh niên đã xuống đường để bày tỏ quan điểm của chính mình, họ thành lập chính phủ lâm thời và phát biểu Tuyên ngôn với phần mở đầu trích từ Bản Tuyên ngôn Độc lập của Thomas Jefferson.

Chúng ta hãy quay về mùa hè rực lửa năm 1776 ở Philadelphia, trong căn phòng tựa như một lò nướng, John Adams cầm trên tay bài viết của Jefferson, ông rất ngưỡng mộ và hài lòng, bởi ban đầu ông chỉ đề nghị Jefferson viết một bài để bày tỏ lập trường của Quốc hội. Nhưng thật bất ngờ vì bài viết vượt trên cả mong đợi, thể hiện tài năng văn học tuyệt vời, ngôn từ chân thành, thấu tình đạt lý, cơ sở lập luận chặt chẽ, đặc biệt với chuẩn mực tinh thần cao thượng này, đó không chỉ là tinh thần lập quốc của Hoa Kỳ mà còn là Tuyên ngôn của cả nhân loại.

Bức tranh “Tuyên ngôn độc lập” của họa sĩ người Mỹ Jean Leon Gerome Ferris mô tả cảnh ba con người nước Mỹ-Jefferson (phải), Franklin (trái) và Adams (giữa) cùng nhau soạn thảo bản tuyên ngôn. 
(Phạm vi công cộng)

Quay trở về với những năm tuổi trẻ của Thomas Jefferson. Sau khi tốt nghiệp tại Học viện Williams and Mary ở Williamsburg, năm 1769, ông đã tham gia tổ chức giải phóng nô lệ của địa phương và trở thành một thành viên trong đó. Trải nghiệm này giúp ông nhận ra rằng: dưới sự cai trị của vua Anh, các vùng thuộc địa không thể xóa bỏ chế độ nô lệ được. Vậy nên hôm nay, trong tuyên bố của mình, ông cũng không quên giải phóng người nô lệ: 

“Nước Anh đã phát động cuộc chiến tàn bạo phản nhân tính chống lại loài người. Chế độ chuyên chế đã cướp đi sinh mệnh và quyền tự do của một dân tộc xa xôi, mà những người thuộc dân tộc này chưa bao giờ xúc phạm đến nước Anh. Cuộc chiến này đã bắt cóc và uy hiếp những người dân vô tội, khiến họ hoặc chết thảm thương trong khi được vận chuyển, hoặc bị đưa đến một nơi xa xôi của trái đất làm nô lệ. Cuộc chiến cướp biển này là do vua của đế quốc Anh phát động. Quyết định của vua Anh đã mở ra một thị trường, nơi con người có thể bị mua và bán”.

Văn bản trên chỉ trích Đế quốc Anh mua bán nô lệ, đó là hành vi vô nhân tính và vô đạo đức đối với chế độ nô lệ người châu Phi ở các thuộc địa. Tuy nhiên, khi bản tuyên bố này được đưa đến quốc hội, đại diện bang miền Nam vừa xem liền đứng dậy lật bàn, và nhất quyết đòi về nhà. Họ nói: 

Hãy nhìn xem! Các người ở miền Đông khai chiến với Đế Quốc Anh, lại kéo theo chúng tôi, những người sống thoải mái ở các đồn điền phương Nam phải đi lên con thuyền nghịch tặc này, xúi giục chúng tôi cùng tham gia cách mạng. Hơn nữa, cớ sao các người lại còn định phá hủy kế sinh nhai của chúng tôi? Không có nô lệ da đen, đồn điền miền Nam làm sao hoạt động? Lại nói, họ là những nô lệ đến từ bốn khu vực hoang dã của châu Phi, vốn không có đức tin, tín ngưỡng, cũng không có văn minh, vậy nếu không ai cai quản thì họ sẽ tha hồ ngủ một mạch suốt từ sáng đến tối dưới ánh mặt trời. Các người mong đợi họ sẽ như những người da trắng siêng năng, nỗ lực, văn minh, và có thể quản lý tốt dân tộc của chính mình sao?

Ban đầu nhóm thổ dân châu Mỹ cắm lông vũ trên đầu, sống chết cũng không chịu đồng hoá với dân tộc bản địa. Bảo họ trồng lúa mì thì họ không chịu, nhất quyết đòi trồng ngô. Bất kể có việc làm hay không thì họ vẫn cứ trốn trong rừng, rồi bắn trộm những mũi tên lạnh lùng vào người da trắng. Bắt được người da trắng rồi thì họ cạo trọc đầu, tô tô vẽ vẽ thành dấu ấn cho thổ dân da đỏ của họ. Chỉ riêng điều này thôi cũng đủ khiến người da trắng chúng tôi phải đau đầu rồi, vậy mà các người còn định giải phóng cho nô lệ da đen! Đến khi cuộc chiến thực sự bắt đầu, nếu nô lệ da đen có súng trong tay thì họ có nhắm vào chúng ta hay không? Thomas Jefferson và nhóm của họ đã viết điều này thật hùng hồn vào bản tuyên ngôn. Ấy là các người e ngại kẻ thù chưa đủ nhiều và cho rằng những rắc rối của chúng tôi là chưa đủ lớn? Các người thật cao thượng, đã muốn chống lại vua Anh lại còn muốn giải phóng nô lệ! Vậy thì các người lo mà bận rộn đi! Chúng tôi trở về nhà trồng trọt, còn lại kệ các người, được chưa?

Ông già Benjamin Franklin đáng kính nhìn thấy tình huống ấy: Chỉ vì đoạn văn viết rằng việc buôn bán nô lệ là ngược lại Đạo trời, nên mới khiến nghị viện quốc hội nổ tung giận dữ. Nếu mấy vị đại diện các bang miền Nam bỏ đi và không tham gia nữa rồi rời đi, thì nghị viện quốc hội cũng không thể duy trì được. Việc cấp bách ưu tiên trước mắt là làm cách mạng và thành lập một quốc gia độc lập. Còn việc bãi bỏ chế độ buôn bán nô lệ là bước tiếp theo, sau này chúng ta sẽ lại bàn sau vậy. Chỉ một việc đánh đuổi quân Anh cũng đủ để chúng ta bận rộn cả đời rồi, vậy những việc khác thì hãy lưu lại cho thế hệ sau. Adams miễn cưỡng mà tổng kết lại như vậy.

Sau khi Tuyên ngôn Độc lập được nghị viện thông qua, chủ tịch quốc hội Hancock là người đầu tiên ký tên. Tại khoảng trống phía dưới, ở vị trí chính giữa, Hancock đã viết một dòng chữ nổi bật ngay dưới tên mình, về sau dòng chữ này đã trở thành câu tục ngữ của người dân Mỹ: “Nào, xin mời một vị Hancock nữa”.  Ý nghĩa là: Xin mời bạn ký tên của mình. Bởi vì vào thời điểm đó, chữ ký cũng đồng nghĩa là tất cả những ai có tên trong bản danh sách nổi tiếng này sẽ cùng đối mặt với nguy cơ bị vua Anh treo cổ.

Chữ ký của John Hancock trên Tuyên ngôn Độc lập. 
(Phạm vi công cộng)

Sau cuộc tranh luận gay gắt, cuối cùng văn bản ghi chép cũng được đưa lên bàn chủ tịch hội nghị. Mỗi đại biểu quốc hội đều bước lên ký tên của mình, không khí nặng nề bao trùm khắp căn phòng. Một vị đại biểu nói đùa rằng: “Nếu tướng Washington và đội quân của ông ấy bị đánh bại, thì số phận chúng ta là cùng nhau bị treo cổ hay là chia ra treo cổ riêng?” Có người còn nhân cơ hội châm chọc vị đại diện có thân hình mập mạp: “Khi đó trên giá treo cổ, chỉ chốc lát sau chúng ta đều thẳng cẳng mà chết. Nhưng còn vị anh hùng mập mạp này ấy à, ngài có thể phải chịu khổ rồi, chắc hẳn ngài sẽ phải duỗi chân rất lâu mới có thể tắt thở cho được”.

Từ Jefferson đến Lincoln

Tuyên ngôn Độc lập được sao chép riêng thêm một bản và nhờ người gửi hỏa tốc đến tướng quân Washington. Tướng Washington vô cùng vui mừng, liền tập hợp tất cả binh lính và đọc bản Tuyên ngôn này trước công chúng. Kể từ đó, mọi người cùng đồng lòng chiến đấu cho Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Họ đồng thanh nói: vậy thì, hãy cầu nguyện cho đất nước chúng ta trước bữa ăn! Ngay đêm sau khi bản Tuyên ngôn được đọc lên, cả thành phố Boston hân hoan vui mừng, binh sĩ và dân chúng vừa trở thành công dân độc lập, đã cùng nhau kéo đổ tượng đài vua George đệ tam ở trung tâm thành phố. Sau đó họ gửi nguyên vật liệu này đến xưởng vũ khí, chế tạo hàng ngàn viên đạn và gửi đến cho quân đội.

Tương tự như vậy, tiếng chuông tự do vang lên khắp Philadelphia, dân chúng trong toàn thành phố lắng nghe các đại biểu đọc bản văn hào hùng này rồi cùng nhau diễu hành vui mừng say sưa. Kể từ đó, mỗi năm – ngày 4 tháng 7 đã trở thành quốc khánh của Hoa Kỳ. Bản thân Adams cũng từng dự đoán trước điều này trong lá thư gửi cho gia đình và người vợ Abigail của ông: “Các thế hệ tương lai sẽ kỷ niệm ngày này, từ khắp nơi trên lục địa châu Mỹ người ta sẽ thấy các cuộc diễu hành, biểu diễn, đốt lửa, bắn pháo hoa, đại bác, súng ống, và các  hình thức khác để kỷ niệm ngày trọng đại này”.

Có người cho rằng việc xóa bỏ một đoạn văn trên bản Tuyên ngôn Độc lập đã cho phép chế độ nô lệ tiếp tục tồn tại trên lục địa châu Mỹ nhiều năm về sau. Sau khi nước Mỹ thành lập, Jefferson từng trịnh trọng đề nghị tại quốc hội rằng nô lệ nên dần dần được trả về quê hương châu Phi của họ. những ý kiến này vẫn không được đa số đại biểu đồng ý. Chế độ nô lệ vẫn tiếp tục tiến hành, người da đen không có nhân quyền, không được giữ lại bất cứ vật gì mà họ yêu quý: tài sản, người thân, ý chí cá nhân, v.v… Những đứa trẻ trong vòng tay của mẹ sẽ bị đem ra chợ bán khi nó lên sáu hoặc bảy tuổi, từ đó hai mẹ con chia cắt, không bao giờ được gặp lại nhau.

Sự phản đối của những người có lương tri đối với chế độ nô lệ vẫn diễn ra và càng ngày càng nóng lên. Cuối cùng, sau cuộc nội chiến năm 1860-1865, sau khi mất đi hàng trăm nghìn binh lính người da trắng , Tổng thống Lincoln đã đưa việc bãi bỏ chế độ nô lệ trở thành ‘luật thép’ trong Hiến pháp Hoa Kỳ. Trong phần mở đầu của bài diễn văn nổi tiếng ở Gettysburg, Tổng thống Lincoln phát biểu: “Cách đây 87 năm trước, các nhà hiền triết của chúng ta đã thành lập một quốc gia mới trên lục địa này. Bản Tuyên ngôn Độc lập được hình thành với mong muốn tự do, và tuân theo nguyên tắc tất cả con người sinh ra đều bình đẳng”. Vào năm 1776, tổng thống Lincoln đã hoàn thành xuất sắc ý nguyện mà Jefferson đã viết trong Bản Tuyên ngôn Độc lập mà ông đã cống hiến cả cuộc đời mình vì lý tưởng này.

Theo Epoch Times
Ngọc Châu biên dịch