Từ Thứ cười: “Nếu ông có thể đánh cờ thắng ta thì được, còn không thì xin miễn cho”. Viên quan nói: “Vậy có khó gì?”, rồi bày sẵn một bàn cờ trên núi. Không ngờ Từ Thứ lại cười lớn nói rằng: “Ông có thể di chuyển được quân cờ của ta không?”. Viên quan chăm chú nhìn kĩ, vô cùng kinh ngạc, thì ra những quân cờ trên bàn cờ kia không biết đã biến thành núi non từ bao giờ. Từ Thứ cũng chẳng thấy đâu, chỉ còn lại dãy núi Kỳ Bàn im lặng mãi mãi.

Từ Thứ, tự là Nguyên Trực, người huyện Trường Xã quận Dĩnh Xuyên (nay là Hứa Xương, Hà Nam, Trung Quốc), khi còn trẻ báo thù cho người khác, sau khi được cứu đổi tên thành Từ Thứ và bắt đầu bái sư học đạo. Sau đó Từ Thứ cùng bạn là Thạch Quảng Nguyên đến Kinh Châu lánh nạn, kết bạn với Tư Mã Duy, Gia Cát Lượng, Thôi Châu Bình… Từ Thứ sau đó đến Tân Dã đầu quân cho Lưu Bị, lúc đó đang nương nhờ Châu mục Kinh Châu là Lưu Biểu. Chính Từ Thứ đã tiến cử Gia Cát Lượng với Lưu Bị.

Năm 208, Tào Tháo mang đại quân xuống đánh Kinh Châu, mẹ ông bị quân Tào bắt được. Từ Thứ vì đạo hiếu đành phải sang phục vụ cho Tào Tháo. Thời Ngụy Văn Đế, Từ Thứ từng làm đến chức Hữu trung lang tướng, Ngự sử trung thừa, sau đó trong chính sử không còn thấy ghi chép nào về ông. Tuy nhiên chúng ta vẫn thấy bóng dáng ông trong địa chí, truyền thuyết dân gian và các tác phẩm văn học.

Hình ảnh minh họa Từ Thứ vẽ thời nhà Thanh. (Nguồn: Wikipedia)

Theo “Vạn Nguyên huyện chí” ghi chép rằng, sau này Từ Thứ từ quan, ẩn cư ở núi Bát Đài bên trong trung tâm núi Đại Ba, rồi chuyển đến núi Hoa Ngạc. Ông hành nghề bốc thuốc trị bệnh cứu người, cuối cùng đắc đạo thành tiên, được người đời gọi là “Hoa Ngạc lão tổ”. Cuốn địa chí này còn ghi chép cụ thể rằng, những năm cuối đời, Từ Thứ đến Bạch Đường Tàng, núi Bát Thái, Vạn Nguyên ẩn cư.

Bạch Đường Tàng nằm ở bên phải (phía tây) núi Bát Đài, vách đá nhô cao bao vây ba mặt, trông trang nghiêm như một chiếc bàn ngọc, tre trúc và dây leo xanh tươi um tùm. Bên cạnh Bạch Đường Tàng có một hang động lớn hình tròn, sâu hàng trăm mét, trong hang có một cánh cửa đá mở rộng, đi vào bên trong, ngước nhìn lên là có thể thấy cả bầu trời. Cánh cửa mở ra trên vách đá dựng đứng, hiểm trở mà hấp dẫn. Từ rất lâu trước đây đã có truyền thuyết rằng trên đó có một ngôi miếu cổ, vô cùng nguy nga trang nghiêm, “nhưng lúc ẩn lúc hiện”. Từ đời này qua đời khác luôn có người tu sửa miếu, thờ cúng Từ Thứ.

Trong “Vạn Nguyên chưởng cố” xuất bản năm 2014 có ghi chép, năm Dân Quốc đầu tiên, có người xây dựng đền thờ Từ Thứ tại Bạch Đường Tàng. Nhưng thời gian trôi đi, mưa gió bào mòn, nay đã không còn nữa, mãi đến thập niên 80 của thế kỷ 20 mới có người xây dựng lại. Đến nay, người ta không ngừng kéo đến ngôi đền thăm viếng dâng hương. Có thể thấy, lòng người Trung Quốc vẫn luôn hướng về Thần linh.

Một số người dân địa phương còn truyền tụng rằng, khi “cơn sốt khí công” bùng nổ khắp cả nước vào thời kỳ cuối của Cách mạng Văn hóa, Từ Thứ ẩn cư tu luyện trên núi Hoa Ngạc đã thêm một lần nữa hiển linh. Ông còn tiếp xúc với một số người, hướng dẫn họ luyện khí công, chữa bệnh khỏe người, thúc đẩy “phong trào khí công” ở địa phương. Đáng tiếc rằng đến nay điều này khó có thể xác minh chi tiết.

Núi Kỳ Bàn, thắng cảnh nổi tiếng của địa phương là một cụm hơn 30 đỉnh núi riêng rẽ hình tròn được hình thành do xói mòn nham thạch. Làng Cảnh Vương Gia Bình, xã Yển Đường, nằm dưới chân núi Bát Đài có 31 ngọn núi nhỏ hình tròn nằm xen kẽ nhau, nhấp nhô uốn lượn nhưng vô cùng hài hòa, trông như những quân cờ khổng lồ được sắp xếp một cách có trật tự trên bàn cờ. Trên đời hiếm có một bàn cờ rộng như vậy, e rằng chỉ có các vị Thần ngoài vũ trụ mới có thể sử dụng.

Truyền thuyết dân gian kể rằng, khi Từ Thứ ẩn cư ở Bạch Đường Tàng, có một viên quan ngưỡng mộ danh tiếng, muốn mời ông xuất sơn làm quan. Từ Thứ cười: “Nếu ông có thể đánh cờ thắng ta thì được, còn không thì xin miễn cho”. Viên quan nói: “Vậy có khó gì?”, rồi bày sẵn một bàn cờ trên núi. Không ngờ Từ Thứ lại cười lớn nói rằng: “Ông có thể di chuyển được quân cờ của ta không?”. Viên quan chăm chú nhìn kĩ, vô cùng kinh ngạc, thì ra những quân cờ trên bàn cờ kia không biết đã biến thành núi non từ bao giờ. Từ Thứ cũng chẳng thấy đâu, chỉ còn lại dãy núi Kỳ Bàn im lặng mãi mãi.

Cuốn sách cổ “Hồ thị thế thuyết” thời nhà Thanh ghi lại, tương truyền có một hòn đảo tên Cổ Tử Dương ở vùng biển phía đông bắc Linh Sơn (Lao Sơn), trên đảo có một loại hoa sơn trà màu trắng to bằng hai bàn tay người. Có người đi hái loại hoa này, trên đường về gặp một ông già ngồi trên thuyền, đi giày rơm, mặc đạo bào. Ông cụ hỏi anh ta: “Anh đang làm gì vậy?”. Người nọ thật thà trả lời thì bị ông cụ lập tức quát mắng: “Đây không phải là vật tầm thường chốn nhân gian”. Rồi ông cụ lại nói với anh ta: “Ở Tức Mặc có một vị tiên sinh học đạo tên là Hồ Phong Dương, anh có thể chào hỏi ông ấy giùm ta”. Hồ Phong Dương là một học giả nổi tiếng ở Tức Mặc cuối Minh đầu Thanh, tinh thông Kinh dịch, để lại nhiều truyền thuyết thần kỳ.

Ông lão nói xong biến mất, người nọ hết sức ngạc nhiên, vội vàng tăng tốc bè tre quay lại. Đột nhiên, một cơn gió mạnh nổi lên, mãi cho đến khi người nọ vứt hết đám hoa sơn trà đã hái đi gió mới dừng lại. Sau đó, người nọ đi tìm Hồ Phong Dương, kể với ông những điều tai nghe mắt thấy. Hồ Phong Dương nói với anh ta: “Ông lão đó là Từ Thứ thời Tam Quốc, đã ẩn cư ở Cổ Tử Dương rất lâu rồi”.

Ảnh: Shutterstock

Triệu Pháp Hiến, người Thanh Giao Châu, có bài thơ “Vịnh Cổ Tử Dương bạch nại đông hoa” (Bài vịnh hoa sơn trà trắng ở Cổ Tử Dương) như sau:

Tiếu nhiên băng tuyết tư
Di thế nhi độc lập
Đình đình không cốc trung
Hàn uy bất năng thực
Yên lam bạn kỳ u
Ngọc thạch trinh kỳ đức
Sương nguyệt mãn lâm cao
Điểm xuyết càn khôn sắc
Hữu khách hải thượng lai
Nghi thị Từ Nguyên Trực
Vân tế lạc thiên biểu
Khả vọng bất khả tức

Dịch nghĩa: Thuần khiết như băng tuyết, độc lập tách biệt với trần thế. Thẳng đứng trong sơn cốc, đến cái giá rét cũng không thể mài mòn. Trong màn khói sương âm u, vẫn sáng như ngọc. Trăng giăng khắp khu rừng, điểm xuyết màu sắc vũ trụ. Trên biển có khách đến, hình như là Từ Nguyên Trực. Mây trên trời rơi xuống, nhìn được nhưng không thể với tới.

Từ Nguyên Trực trong câu thơ trên chính là Từ Thứ (Từ Thứ tự là Nguyên Trực). Trong cuốn sách cổ thời nhà Thanh “Dực câu bài biên” có ghi lại một câu chuyện kỳ ​​bí. Tướng quân nhà Thanh, La Tư Cử, khi còn trẻ từng lầm đường lạc lối làm trộm cắp, sau đó đến núi Chung Nam theo đạo nhân học võ nghệ, từng được Từ Thứ giúp đỡ. La Tư Cử sau này trải qua nhiều thăng trầm, dần trở lại con đường chính đạo, tòng quân đánh giặc, lập nhiều chiến công hiển hách, trở thành Đề đốc đại nhân. Để báo ân, ông đã trùng tu lại ngôi đền ở núi Hoa Ngạc, tạo lại tượng thần “Hoa Ngạc tổ sư” Từ Thứ.

Cổ tịch “Dung am bút ký” cũng có ghi chép chuyện sau khi Từ Thứ thành tiên. Tác giả “Dung am bút ký”, nhà ngoại giao nổi tiếng cuối triều đại nhà Thanh, Tiết Phúc Thành kể lại rằng: “Tiên sinh Cố Hồng Sơn là ông cố ngoại của tôi. Năm lên 6, 7 tuổi, tôi theo ông học chữ, đọc sách, khi đó ông đã hơn 80 tuổi rồi. Cố lão tiên sinh từng kể với tôi rằng khi còn trẻ ông học tại miếu Dược Vương trong thành Vô Tích, trong miếu có vài đạo sĩ. Một hôm, có một vị đạo sĩ từ bên ngoài đến, xin ở lại trong miếu một thời gian. Vị đạo sĩ này từ trong ra ngoài toát lên phong độ của bậc cổ nhân, thần sắc tiêu nhiên, tinh thông kim cổ, đặc biệt yêu thích kể chuyện thời Tam Quốc, lôi cuốn xúc động, khiến người rơi lệ. Những sự tích đạo sĩ đó kể đều không có trong thông tin lịch sử. Khi hỏi tên tuổi, người đó chỉ cười mà không trả lời”.

“Sau đó vài tháng, một đạo sĩ trẻ tuổi đột nhiên bị ốm và bất tỉnh, ông sai người lấy hơn mười lá dâu, cho vào nồi lớn đun lấy nước cho đạo sĩ trẻ kia uống. Hắn liền nhanh chóng khỏi bệnh. Vị đạo sĩ đến từ bên ngoài kia cũng từ biệt rời đi. Lão đạo sĩ cho rằng ông là một dị nhân có tu hành nên muốn giữ lại. Nhưng vị đạo sĩ nhất định từ chối. Khi đó, lão đạo sĩ già vẫn cố sức giữ người. Đạo sĩ kia bấy giờ mới nói ra chân tướng: “Nói thật với ngài, ta là Từ Thứ, kiếp trước vị tiểu đạo sĩ kia chính là thủ hạ Tiểu Hiệu của Lưu Dự Châu (Lưu Bị). Ta niệm tình anh ta có công trong trận chiến Phàn Thành năm xưa, nên cố ý đến cứu giúp. Ta với ngài có duyên gì, sao lại cố cưỡng cầu níu giữ ta?”. Nói xong Từ Thứ liền bước đi. Vị đạo sĩ già lúc này mới biết ông là Thần tiên, vội vàng đuổi theo, nhưng không thể đuổi được, bước mấy chục bước mà chẳng thấy ai, người hình như đã hoàn toàn biến mất trong không khí”.

Trong “Dung am bút ký” còn có một truyền thuyết về việc Từ Thứ hiển linh cứu người. Vào cuối thời Càn Long hoặc giữa năm Gia Khánh, có một đạo sĩ đi đến một thôn một huyện nào đó của tỉnh Quảng Đông. Vị đạo sĩ ăn mặc rách rưới, cầu xin dân làng bố thí cơm chay. Ngoại trừ một bà lão cho ông một bát cơm, chẳng ai cho ông chút gì khác. Vị đạo sĩ buồn bã thở dài: “Ta muốn cứu người của cả vùng này, ai ngờ số trời khó tránh, không thể cưỡng lại”.

Người trong thôn tuy không ai bố thí cho ông, nhưng trong thâm tâm họ vẫn tin vào Thần Phật, lời than thở của vị đạo sĩ khiến họ chú ý, cho nên vây quanh để xem. Có lẽ đạo sĩ thấy lòng họ vẫn còn tin vào Thần, bèn nhổ chỗ cơm vừa ăn lên một tảng đá, nói với dân làng: “Năm nay trời giáng xuống đại dịch, người chết vô số, chỗ cơm này mỗi hạt có thể cứu sống 1 người. Các người có muốn sống sót không?”. Dân làng nghe vậy tranh nhau ăn cơm đạo sĩ nhổ ra. Có người dân hỏi tên tuổi đạo sĩ, ông đáp: “Từ Thứ”, nói xong nhanh chóng rời đi. Không lâu sau, ở vùng đó xảy ra dịch bệnh làm chết rất nhiều người, nhưng những ai được ăn hạt cơm của đạo sĩ kia thì đều bình an vô sự.

Theo Secret China
Quỳnh Chi biên dịch