Trong ‘Tống sử’ viết rằng: Văn Thiên Tường trước khi nhận án tử vẫn thong dong, sau đó hướng về nam bái lạy. Bái lạy xong, ông đứng lên rồi nói: “Việc tôi xong rồi” (Ngô sự tất hĩ – 吾事畢矣).

Cái chết của ông có khôi phục giang sơn nhà Tống không? Không. Cái chết của ông có đuổi được quân Nguyên ra khỏi bờ cõi không? Không. Vậy rốt cuộc ông đã làm xong việc gì?

Trên kênh Youtube ‘Tiếu đàm phong vân’, Giáo sư Chương Thiên Lượng có đưa ra một số video để khán giả xem miễn phí, thì trong phần 4 tập 41: Hạo nhiên chính khí, Giáo sư Chương Thiên Lượng có kể câu chuyện về Văn Thiên Tường, từ đó giải đáp vấn đề trên ở gần cuối bài như sau.

Vài nét về Văn Thiên Tường

Trong ‘Tống sử – Văn Thiên Tường truyện’ nói rằng, Văn Thiên Tường là Thừa tướng Trạng nguyên của triều Nam Tống. Giáo sư Chương đánh giá, ‘Tống sử’ miêu tả Văn Thiên Tường có cảm giác giống như miêu tả một… nữ nhân, trong đó viết: Da trắng như ngọc, thân thể khôi ngô.

Sau khi đỗ Tiến sĩ, ông thích hưởng thụ cuộc sống. Kỳ thực rất nhiều quan viên Lưỡng Tống có cuộc sống rất ý vị như làm thơ, vẽ tranh v.v. Trong nhà Văn Thiên Tường nuôi rất nhiều ca nữ, vũ nữ, bởi vì nhà ông có nhiều tiền. Sau này đến khi quân Mông Cổ xâm lược, Văn Thiên Tường bán hết gia tài để xoay sở quân phí, chuẩn bị ‘cần vương’ (勤王: giúp vua). 

Khi Văn Thiên Tường khởi binh, ông cùng với Lục Tú Phu và Trương Thế Kiệt được lịch sử gọi là ‘Tống mạt tam kiệt’, chính là những người dốc hết sức lực để vãn hồi xã tắc. 

Nhân sinh tự cổ thuỳ vô tử / Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh: Quyết không khuyên tướng Tống hàng giặc 

Văn Thiên Tường từng phụng mệnh để chiến đấu cùng với quân Mông Cổ, nhưng ở địa phương Hải Phong tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, ông đã bị quân đội Mông Cổ bắt; bởi vì ông vốn là người đọc sách không có kinh nghiệm tác chiến, trong khi quân đội Mông Cổ lại quá mạnh. Hơn nữa khi ấy ông chuẩn bị không kịp, quân tiên phong của Trương Hoằng Phạm (tướng nhà Nguyên) đột nhiên xông ra bắt sống Văn Thiên Tường.

Sau khi bị bắt, quân Nguyên biết Văn Thiên Tường là Thừa tướng Trạng nguyên, bèn áp giải đến gặp Trương Hoằng Phạm. Tả hữu bắt Văn Thiên Tường phải quỳ xuống hành lễ, nhưng ông vẫn đứng chứ không quỳ. Trương Hoằng Phạm là người rất quý cái tài của Văn Thiên Tường, thế là lấy lễ tân khách để đối đãi với Văn Thiên Tường.

Trương Hoằng Phạm bảo Văn Thiên Tường viết một phong thư đưa cho Trương Thế Kiệt khuyên đầu hàng. Văn Thiên Tường nói: ‘Tôi sao có thể khuyên người ta viết những lời phản bội cha mẹ được’, cho nên ông cự tuyệt viết thư. 

Trương Hoằng Phạm nhất quyết ép ông phải viết, Văn Thiên Tường đã sao lại bài thơ mình viết, đây là bài ‘Quá Linh Đinh dương’ rất nổi tiếng, trong đó 2 câu cuối viết rằng:

Nhân sinh tự cổ thuỳ vô tử
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh

Dịch nghĩa:

Nhân sinh tự cổ ai không chết
Lưu lại lòng son chiếu sử xanh

Trương Hoằng Phạm sau khi xem xong, vô cùng cảm động, biết rằng Văn Thiên Tường không đầu hàng, thế là ông đưa Văn Thiên Tường đến Đại Đô để gặp Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt. 

Từ Quảng Châu đến Đại Đô, thời tiết khắc nghiệt, mưa gió tầm tã, Văn Thiên Tường tuyệt thực 8 ngày, hơn nữa còn uống thuốc độc nhưng ông vẫn không chết; Giáo sư Chương đoán rằng có thể vì ông ấy còn việc cuối cùng chưa hoàn thành. Cứ như thế Văn Thiên Tường bị áp giải đến Đại Đô. 

Khi đến Đại Đô, Văn Thiên Tường được ở trong một quán dịch có bài trí rất xa xỉ, có đãi ngộ vô cùng tốt, nhưng Văn Thiên Tường không muốn ngủ trên giường, mà ông đứng chờ đến trời sáng. 

Cha mẹ bệnh nặng, chẳng lẽ con cái buông tay?

Sau này có một người tên là Vương Tích Ông, vị này được Hốt Tất Liệt hỏi rằng: ‘Nam Tống có rất nhiều nhân tài, ta muốn thu thập những nhân tài như vậy để dùng. Ai là người có tài nhất?’. Vương Tích Ông nói: ‘Không ai có thể sánh với Văn Thiên Tường’. Do đó Hốt Tất Liệt phái người khuyên Văn Thiên Tường đầu hàng.

Văn Thiên Tường không đầu hàng, khi ấy Vương Tích Ông hỏi: ‘Tương lai ông (Văn Thiên Tường) có kế hoạch gì?’. Văn Thiên Tường nói: ‘Quốc gia đã mất rồi. Nếu Hoàng thượng hiện tại có thể đại xá thiên hạ, vậy thì tôi sẽ được tự do. Khi ấy tôi muốn về quê làm Đạo sĩ. Nếu tôi còn có ích cho quốc gia, Hoàng đế có thể nghe; thì tôi có thể dùng thân phận khác để đề xuất ý kiến. Nhưng ông nói tôi đầu hàng thì tôi không đầu hàng’.

Về sau, Thừa tướng triều Nguyên là Bột La đích thân xét hỏi Văn Thiên Tường: ‘Quốc gia đã tới bước này đã không còn hy vọng, ông biết rõ không thể thành công, vậy tại sao vẫn nỗ lực?’. Văn Thiên Tường nói: ‘Đây giống như cha mẹ mắc bệnh nan y, biết rõ uống thuốc không khỏi, nhưng lẽ nào không sắc thuốc cho cha mẹ? Tôi đối với triều đình cũng mang một cái tâm như thế’.

Điều Văn Thiên Tường nói, trên thực tế trong ‘Tiếu đàm phong vân’ phần 1: Đông Chu liệt quốc, Giáo sư Chương đã nói giảng về 2 giá trị quan trọng của Nho gia, một cái gọi là Nghĩa (義), cái còn lại là Thiên mệnh (天命). ‘Nghĩa’ chính là: một sự việc đúng về mặt đạo đức thì nên làm, hơn nữa phải tận sức làm; còn kết quả là do Thượng Thiên an bài, đây là ‘Thiên mệnh’. Do đó cách làm của Văn Thiên Tường là thực tiễn hoàn mỹ của ‘Nghĩa’ và ‘Thiên mệnh’. 

‘Chính khí’ giúp Văn Thiên Tường sống sót trong lao ngục ô uế

Bản thân Văn Thiên Tường kiên trì không đầu hàng, cho nên bị giam vào ngục. Ở trong ngục Đại Đô, Văn Thiên Tường đã viết bài ‘Chính khí ca’ vô cùng nổi tiếng.

Thời Giáo sư Chương còn học cấp 2, trong sách giáo khoa có một đoạn tiểu dẫn ở trước bài thơ viết rằng: 

Ta bị nhốt ở Bắc Đình, trong một căn nhà bằng đất. Nhà rộng tám thước sâu xuống lòng đất bốn tầm (khoảng 2 mét 6), có mỗi một cánh cửa thấp nhỏ, khoảng trống hẹp, ẩm thấp và tối tăm. 

Vào ngày hè, các mùi bốc lên nồng nặc, gồm mấy thứ khí hơi nước, khí đất, hơi nóng của mặt trời, hơi lửa, khí của gạo và uế khí, vẫn không bị các bệnh dịch xâm hại đến, và ta sống ở nơi này đã hai năm rồi, không sao cả. 

Đó là có sự nuôi dưỡng bên trong mới được như vậy, chắc các ngươi cũng chẳng biết nguồn nuôi dưỡng đó từ đâu? Mạnh Tử nói: “Ta giỏi nuôi dưỡng hạo khí của ta”. Ở đây có bảy khí, ta có một khí, một địch lại bảy ta còn lo gì nữa. Huống hạo khí là chính khí vậy, nên làm bài ‘Chính khí ca’.

Tranh vẽ Văn Thiên Tường trong nhà ngục ô uế.

Văn Thiên Tường cho rằng ‘chính khí’ như vậy là nguyên nhân Thiên Địa tồn tại, cho nên trong ‘Chính khí ca’ ông viết:

Địa duy lại nhi lập
Thiên trụ lại nhi tôn

(地維賴以立
天柱賴以尊)

Dịch nghĩa:

Khuôn đất nhờ nó lập (đứng)
Trụ Trời nhờ nó cao

Văn Thiên Tường nói rằng, vốn dĩ chính khí ‘vô hình vô tướng’, nhưng có thể ninh kết thành Nhật Nguyệt Sơn Hà. Phần sau của ‘Chính khí ca’, Văn Thiên Tường dùng rất nhiều câu chuyện về những bậc trung liệt để cổ vũ chính mình. Như thế ông mới sống được 2 năm trong ngục. 

‘Việc tôi xong rồi’

Sau 2 năm, đến năm 1282, có người muốn khôi phục giang sơn Nam Tống, muốn cứu Thừa tướng Văn Thiên Tường v.v. Hốt Tất Liệt thấy vậy cho rằng, trong tâm mắt của bách tính thì Văn Thiên Tường vẫn còn uy vọng, thế là ông bảo Văn Thiên Tường lên đại điện hỏi: ‘Rốt cuộc ông (Văn Thiên Tường) muốn gì?’. Văn Thiên Tường nói: ‘Tôi chỉ cầu một cái chết’.

Lúc đó Hốt Tất Liệt không nỡ, xua tay bảo Văn Thiên Tường lui, nhưng đại thần xung quanh khuyên Hốt Tất Liệt: ‘Người này nếu lưu lại sẽ thành hậu hoạ, sẽ uy hiếp chính quyền của chúng ta’. Hốt Tất Liệt đành đồng ý, hoàn thành tâm nguyện của Văn Thiên Tường là ‘cầu một cái chết’.

Văn Thiên Tường bị áp giải đến khu hành hình, nay thuộc khu Thái Thị Khẩu thành phố Bắc Kinh, trong ‘Tống sử’ viết rằng: Văn Thiên Tường trước khi nhận án tử vẫn thong dong, sau đó hướng về nam bái lạy. Bái lạy xong, ông đứng lên rồi nói: “Việc tôi xong rồi”.

Sau này khi vợ và con gái thu thập di vật của Văn Thiên Tường, phát hiện trong y phục ông có một tờ giấy viết rằng:

Khổng viết thành Nhân
Mạnh viết thủ Nghĩa
Duy kỳ nghĩa tận
Sở dĩ Nhân chí.
Độc Thánh hiền thư
Sở học hà sự?
Nhi kim nhi hậu
Thứ kỷ vô quý.

Dịch nghĩa:

Khổng nói thành Nhân (Khổng là Khổng Tử)
Mạnh nói thủ Nghĩa (Mạnh là Mạnh Tử)
Chỉ khi nghĩa trọn
Là lúc Nhân tới.
Đọc sách Thánh hiền
Học để làm chi
Để nay về sau
Lòng ta không thẹn.

Tranh vẽ Văn Thiên Tường và câu nói trong tờ giấy di vật.

Khi Giáo sư Chương đọc ‘Tống sử –  Văn Thiên Tường truyện’, đọc đến đoạn này liền nghĩ đến 4 chữ mà Văn Thiên Tường nói, đó là: “Việc tôi xong rồi” (Ngô sự tất hĩ – 吾事畢矣). Rốt cuộc ông đã làm xong việc gì? Cái chết của ông có thể khôi phục giang sơn Đại Tống không? Không thể. Cái chết của ông có thể đuổi được quân Nguyên không? Không thể. Con trai của ông tử trận có thể sống lại không? Cũng không thể. 

Vậy thì cái chết của ông đối với gia đình, quốc gia, triều đình Đại Tống và giang sơn xã tắc có ý nghĩa gì? Không có ý nghĩa gì. Nhưng cái chết của ông lại có ý nghĩa đối với dân tộc (Trung Hoa). 

Cái chết của ông lưu lại một loại tinh thần gọi là ‘Chính khí’ (正氣). Do đó, sau hơn 800 năm, chúng ta quay đầu nhìn lại Văn Thiên Tường, chúng ta vẫn bị ‘chính khí’ của ông làm cảm động; hơn nữa loại tinh thần này thuận theo cái chết của ông mà dung nhập vào máu huyết dân tộc. 

Trên thực tế, tấm lòng trung liệt có sức hấp dẫn, không chỉ người dân Trung Quốc mà cả những chí sĩ người Việt cũng yêu mến Văn Thiên Tường. 

Ví như trong bài ‘Chí làm trai’, cụ Nguyễn Công Trứ viết:

Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc,
Nợ tang bồng vay giả, giả vay.
Chí làm trai nam bắc đông tây,
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể.

Nhân sinh tự cổ thuỳ vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.
Đã hẳn rằng ai nhục với ai vinh,
Mấy kẻ biết anh hùng khi vị ngộ.
Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ,
Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong…

Trong này có 2 câu rất nổi tiếng của Văn Thiên Tường. 

Cụ Phan Bội Châu đã từng dịch ‘Chính khí ca’ truyền tụng rộng khắp để cổ vũ khích lệ lòng yêu nước của con dân nước Việt. Cụ Nguyễn Đình Chiểu cũng truyền bá tư tưởng ‘Chính khí ca’ vào Việt Nam qua ‘Ngư tiều vấn đáp’ (từ câu 1350 đến 1375).

Hay như vào năm 1882, khi thành Hà Nội thất thủ, thì Nguyễn Văn Giai cũng mượn ý của ‘Chính khí ca’ để làm thành bài ‘Hà thành chính khí ca’….

Quả thật Văn Thiên Tường đã để lại một giá trị tinh thần, một nguồn động lực to lớn, để khi hậu thế nhắc đến ông lại nhắc đến ‘Chính khí ca’, ‘Nhân sinh tự cổ thuỳ vô tử / Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh’ với sự trầm trồ và cảm khái không thôi…

Mạn Vũ

Chú thích:
(*) Tuẫn quốc – 殉國: hy sinh vì nước.
(**) Tống mạt tam kiệt: Ba hào kiệt cuối thời Tống, có nét giống với ‘Hán sơ tam kiệt’, tức ba hào kiệt đầu thời Hán gồm Trương Lương, Hàn Tín và Tiêu Hà.
(**) Ảnh trong bài chụp từ ‘Tiếu đàm phong vân’ phần 4 tập 41: Hạo nhiên chính khí (浩然正氣: chính khí ngút trời).